Hoa Anh túc (poppy) – Hữu sắc vô hương

Anh túc hay còn gọi là a phiến, thẩu, trẩu (người Tày gọi là cây nàng tiên), là loài thực vật có tên khoa học là Papaver somniferum L., thuộc họ Anh túc (Papaveraceae). Được xem là cây dược liệu quý. Trong y học dùng cho giảm đau tốt nhất trong các loại dược liệu cả Đông lẫn Tây y. Chiết suất của cây này làm gây nghiện nặng. Ngành y học khuyến cáo không nên dùng trong các trường hợp thông thường, phải có sự chỉ định chi tiết và giám sát trực tiếp của bác sỹ. Việc lạm dụng quá mức có thể gây nghiện. Chính phủ Việt Nam đã cấm trồng cây này, lập một đơn vị phòng chống ma túy kiểm soát; thuốc phiện và các chất được tinh chiết từ nó, và các chất gây nghiện khác như cần sa ..v.v.

Bông Anh túc 2 màu

Bông Anh túc 2 màu

Họ Anh túc hay họ A phiện (danh pháp khoa học: Papaveraceae) là một họ thực vật có hoa. Họ này được các nhà phân loại học thực vật công nhận rộng rãi. Nó là họ phân bổ rộng khắp thế giới trong các khu vực ôn đới và cận nhiệt đới. Phần lớn là cây thân thảo, nhưng một số ít là cây bụi và cây gỗ nhỏ.

Tên thường gọi của Hoa Anh túc

Tên Tiếng Việt: a phen, hoa thuốc phiện, hoa mĩ nhân, hoa lệ xuân, hoa anh túc
Tên Tiếng Anh: Poppy
Tên tiếng Pháp : Pavot
Tên Latin : Papavet

Ý nghĩa hoa Anh túc

Ý nghĩa chung hoa anh túc : giấc ngủ thiên thu, sự lãng quên, ảo tưởng.
Anh túc đỏ : Khoái lạc, sự quyến rũ phù du
Anh túc trắng : Sự an ủi
Anh túc vàng : Sự giàu có, thành công

Anh Túc là danh xưng chung một tộc hoa ‘hữu sắc vô hương’, có tên khoa học là Papaver, tiếng pháp là pavot và tiếng anh là poppy. Người mình gọi nôm na Anh Túc là hoa á phiện. Văn nhơn thi sĩ việt còn bày đặt thi vị hóa, gọi á phiện là Phù Dung. Và có lẽ để tránh nhìn lầm nó với một loại phù dung khác (bông bụp hay hoa dâm bụt – bụt mà còn dâm trời ạ) họ gọi Phù Dung á phiện là nàng, là tiên tử. Phù dung tiên tử bị xếp vào hàng ‘hồng nhan họa thủy’ femme fatale, dính dzô là y phép sanh họa vì khả năng gây nghiện ngập. Phân biệt phái tánh kiểu nớ, hoặc do thời một ngàn mấy trăm lâu lắm ấy, đờn bà còn là động vật chưa tiến hóa, hoặc do ‘lậm giới’ hầu như toàn đực rựa nên Phù dung phải là nàng tiên, vì rằng chuyện đồng tánh thời đó do bị kỳ thị nên người ta dấu diếm dữ lắm lận.

Gia tộc Anh Túc Papaver có rất nhiều loại, từ loại dùng làm kiểng cho tới loại dùng làm thuốc.
Coquelicot là một loại anh túc có tên Papaver rhoeas, tiếng anh là red corn poppy hay red field poppy, mình tỉnh bơ kêu nó là hoa mồng gà (mào gà). Trong các bài văn, bao giờ coquelicot cũng được dịch là hoa mồng gà. Thiệt ra mồng gà trong văn chương việt, Celosia argentea, là một loại hoa hoàn toàn khác, nó là thứ cây kiểng dân dã, bán ở các chợ bông vào dịp tết nguyên đán.

Hoa anh túc đỏ và vàng

Hoa anh túc đỏ và vàng

Hoa anh túc được chọn làm biểu tượng cho Ngày Tưởng Niệm tức lễ Chiến Sĩ Trận Vong, Remembrance Day. Tại Hoa Kỳ Ngày Tưởng Niệm nhằm tuần lễ cuối cùng của tháng 5, trong khi ấy tại Gia nã đại là ngày 11 tháng 11, sau lể các thánh và lễ các linh hồn.

“Poppy” xuất phát từ chữ Hy Lạp “rhoeas” có nghĩa là đỏ. “Papaver” là từ tiếng Latin, nghĩa là “pap”, tinh chất “sữa” của cây thuốc phiện. Những cây anh túc phương Đông chứa thuốc phiện (opium) đã được sử dụng hàng thế kỷ nay. “Corn poppy” – (một loại anh túc ngũ cốc?) không chứa opium.

Theo thần thoại Hy Lạp, hoa anh túc được nữ thần Ceres tạo ra để xoa dịu nỗi đau của mình bằng những giấc ngủ khi đi tìm con gái bị thất lạc là Proserpine. Hai anh em sinh đôi – Hypnos và Thanatos (Giấc Ngủ và Cái Chết) với vương miện có hoa anh túc hay cầm hoa anh túc trên tay. Những biểu tượng đó chứng tỏ rõ ràng là từ xa xưa, người Hy Lạp cổ đại đã nhận thức được rằng một giấc ngủ êm ái gây bởi thuốc phiện có thể dẫn đến cái Chết.

Trong câu chuyện khác về hoa anh túc, một phù thủy ác độc nọ đã hóa phép biến một phụ nữ thành một bông hoa anh túc. Kể từ đó, người phụ nữ phải sống trên cánh đồng với những bông hoa anh túc khác và chỉ được về thăm nhà vào ban đêm. Một đêm nọ, người phụ nữ bảo với chồng mình rằng, nếu anh tìm và hái được bông hoa anh túc của cô thì lời nguyền của phù thủy sẽ không còn hiệu lực. Sáng sớm hôm sau, người chồng đi vào cánh đồng và nhìn thấy hàng trăm ngàn bông anh túc ở đó, tất cả đều giống nhau y hệt. Sau khi chịu khó tìm xem từng bông hoa nhỏ, anh đã rất vui mừng khi tìm được vợ mình – đó là bông hoa anh túc duy nhất trên cánh đồng buổi sớm không bị ướt bởi sương đêm vì tối qua nàng đã ở nhà. Khi anh hái bông hoa anh túc đó, lời nguyền mất hiệu lực và thế là từ đó, hai vợ chồng được sống với nhau thật hạnh phúc.

Khóm hoa anh túc trắng

Khóm hoa anh túc trắng

Ở New Zealand, chữ “Tall Poppy” dùng để chỉ những người nổi trội so với những người khác. Còn “Corn Rose” là tên thời La Mã chỉ những bông hoa anh túc dại, vì chúng thường mọc trên những cánh đồng ngô. Thời Trung Cổ người ta còn gọi anh túc là “Smoke of the Earth”. Người ta cho rằng khói khi đốt cây đuổi được tà ma, xui rủi.

Hoa anh túc được chú ý trong suốt những cuộc chiến tranh của Napoleon vì những bông hoa kỳ bí này nở xung quanh những ngôi mộ mới của những chiến binh tử trận. Sau cuộc chiến 1914-1918, hoa anh túc mọc ngập tràn trên những ngôi mộ ở bãi chiến trường ở Flanders. Người ta nói rằng những bông anh túc mọc lên từ máu đã nhỏ xuống. Nó là biểu tượng để tưởng nhớ những người đã chết trong chiến tranh.

Được chạm khắc vào những chiếc ghế dài trong một số nhà thờ Thiên Chúa giáo, hoa anh túc biểu hiện cho niềm tin rằng chúng ta đang “yên nghỉ” trong khi biết trước về Ngày Tận Thế (the Last Day ?).

Loài thực vật này có đặc tính chữa trị gây mê được dùng trong y học. Morphine và Codeine là hai loại chất gây mê thông dụng chế biến từ anh túc. Cây thuốc phiện cũng đã là nguyên nhân chính của cuộc chiến tranh giữa Anh và Trung Quốc năm 1939. Hàng thế kỷ nay, cây thuốc phiện đã trồng ở Ấn Độ.

Từ khóa tìm kiếm nhiều nhất
  • mua hat giong anh tuc poppy
  • rượi hoa anh túc

Có yêu cầu hay góp ý thì bình luận bên dưới nha!